Kết quả 4 năm thực hiện Phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” (2008-2012)


Căn cứ Kế hoạch số 7575/KHLN/BGDĐT-BVHTTDL-TƯĐTN ngày 19/8/2008 giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh về việc triển khai Phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” (PTTĐ) giai đoạn 2008-2013 và Kế hoạch phối hợp thực hiện PTTĐ các năm học: 2009-2010 (số 508/KHLN/BGDĐT-BVHTTDL-TƯĐTN-HLHPNVN-HKHVN ngày 03/8/2009), 2010-2011 (số 533/KHLN/BGDĐT-BVHTTDL-TƯĐTN-HLHPNVN-HKHVN ngày 01/9/2010), 2011-2012 (số 917/KH/BGDĐT-BVHTTDL-TƯĐTN-HLHPNVN-HKHVN ngày 31/8/2011), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tập trung chỉ đạo các đơn vị trong ngành, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành liên quan, thực hiện có hiệu quả những nội dung của PTTĐ.

1. Tình hình phối hợp và triển khai thực hiện PTTĐ
Trong 4 năm qua, theo tình hình thực tiễn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã kịp thời chỉ đạo các đơn vị trong ngành thực hiện các nhiệm vụ bám sát Kế hoạch chung của PTTĐ và phù hợp với yêu cầu công tác trọng tâm hàng năm. Đến nay, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố đã ký kết Kế hoạch liên ngành giai đoạn 2008-2013 với Sở Giáo dục, Tỉnh Đoàn và Hội khuyến học với từng nội dung công việc cụ thể phù hợp với thực tiễn của địa phương, đồng thời tổ chức phát động PTTĐ với sự tham gia của các cấp, các ngành nhằm quán triệt và tuyên truyền sâu rộng các nội dung của Kế hoạch liên ngành tới toàn thể cán bộ, công chức, viên chức trong ngành. Các phòng Văn hóa-Thông tin huyện, quận, thị xã cũng triển khai thực hiện và ký kết kế hoạch phối hợp với phòng Giáo dục và Huyện Đoàn. Thông qua các hoạt động của phong trào, nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và các ngành đối với việc giáo dục truyền thống, bảo vệ và phát huy di sản văn hóa đã từng bước được nâng cao, tạo động lực quan trọng trong hoạt động bảo vệ và phát huy di sản văn hóa dân tộc.
Bên cạnh đó, ở cấp trung ương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc thực hiện những nhiệm vụ liên ngành, như: xây dựng Kế hoạch triển khai PTTĐ ở từng thời điểm, thời gian cụ thể; kế hoạch triển khai các công việc lớn; định kỳ hàng năm tổ chức kiểm tra việc thực hiện PTTĐ ở các địa phương; nghiên cứu bổ sung câu hỏi và trả lời để xuất bản, tái bản cuốn “Sổ tay trường học thân thiện, học sinh tích cực”; tham gia thành viên Ban Giám khảo cuộc thi Video clip Giới thiệu di tích lịch sử địa phương; tham gia Hội đồng thẩm định Đề tài Phần mềm và chuyên đề tra cứu di tích lịch sử-văn hóa v.v..
2. Kết quả thực hiện các nhiệm vụ của PTTĐ
2.1. Cơ bản hoàn thành việc bàn giao, giới thiệu các di tích lịch sử, văn hóa của địa phương để học sinh tham gia chăm sóc, tìm hiểu và phát huy giá trị
- Căn cứ theo Kế hoạch liên ngành, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố đã chỉ đạo các bảo tàng và ban quản lý di tích, phòng Văn hóa-Thông tin cấp huyện chủ động lập danh sách giới thiệu các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, bàn giao cho ngành Giáo dục; phân công các trường chăm sóc, đồng thời hướng dẫn nghiệp vụ và cách thức tổ chức hoạt động chăm sóc, trồng cây xanh, bảo vệ cảnh quan môi trường di tích phù hợp với đối tượng các trường từ tiểu học đến THPT tại địa phương.
- Tính đến nay, đã có trên 7.000 di tích đã được ngành Văn hóa bàn giao và giới thiệu cho ngành Giáo dục hỗ trợ chăm sóc, phát huy (trong đó có trên 2.000 di tích quốc gia, chiếm trên 65% tổng số di tích quốc gia của cả nước). Những di tích cho đến nay vẫn không thể thực hiện bàn giao chủ yếu do nguyên nhân nằm xa khu vực dân cư, do đó học sinh khó có khả năng tiếp cận được, nhất là các di tích ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Cùng với việc bàn giao, ngành Văn hóa đã cung cấp kèm theo thuyết minh tóm tắt các di tích với mục đích trang bị cho học sinh một số kiến thức cơ bản về di tích và địa phương, qua đó để trang bị và giáo dục cho các em về lịch sử và truyền thống của quê hương đất nước.
Một số đơn vị điển hình trong việc thực hiện bàn giao và hướng dẫn chăm sóc di tích là: Bắc Ninh (152 di tích); Hải Dương (146 di tích); Thanh Hóa (141 di tích); Bình Định (99 di tích); Đắk Lắk (82 di tích); Hà Tĩnh (72 di tích)...
- Đối với các khu di tích do Bộ Giáo dục và Đào tạo trực tiếp chăm sóc, tôn tạo, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch ở các địa phương nơi có di tích đã chủ động và tích cực phối hợp với các cơ quan liên ngành tổ chức các hoạt động thiết thực nhằm phát huy có hiệu quả nhất giá trị của di tích đối với thế hệ trẻ, cụ thể:
+ Đền thờ nhà giáo Chu Văn An và đền thờ nữ tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Dương đã phối hợp tổ chức Ngày Di sản văn hóa Việt Nam - Ngày về nguồn tại di tích và phát động phong trào thi đua “Tuổi trẻ học đường tham gia các hoạt động bảo vệ và phát huy di sản văn hóa”; gần 5.000 giáo viên, học sinh các trưởng cao đẳng, trung học trong tỉnh đã tham gia ký giao ước thi đua. Đến nay, tại 2 di tích đã có trên 100 trường đại học và cao đẳng về dâng hương và có trên 30 trường đăng ký tham gia hoạt động với hình thức: báo công dâng Thầy, tuyên dương học sinh giỏi, dựng trại...
+ Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Vạn Phúc (Hà Đông, Hà Nội): Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức cho tất cả các trường học địa bàn quận Hà Đông duy trì thường xuyên 2 tuần/lần làm công tác vệ sinh môi trường. Đặc biệt, các trường Tiểu học và Trung học cơ sở Vạn Phúc, Văn Yên duy trì 1 tháng/2 lần tổ chức cho các em học sinh tiêu biểu đến dâng hương báo cáo kết quả học tập; tổ chức các hoạt động kết nạp Đội, rước đuốc truyền thống trong các ngày kỷ niệm lớn, ngày ra quân...
+ Khu tưởng niệm cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đồng Tháp xây dựng kế hoạch hướng dẫn chăm sóc di tích, cung cấp tư liệu, hình ảnh cho các nhà trường, biên tập nội dung cuộc thi tìm hiểu, thi đố vui về cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, về Bác Hồ, về Đảng và quê hương đất nước. Tổ chức Lễ phát động phong trào thi đua tại thành phố Cao Lãnh và bàn giao cho trường Trung học cơ sở Nguyễn Thị Lựu đảm nhận việc chăm sóc di tích. Từ năm 2008 đến nay, đã có hàng chục nghìn lượt học sinh tói viếng, tham quan và chăm sóc di tích.
+ Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh đã phối hợp với các cơ quan hữu quan triển khai thực hiện các dự án tu bổ, tôn tạo tại khu di tích Ngã ba Đồng Lộc như: Xây dựng Gác chuông; Xây dựng cụm tượng 10 nữ thanh niên xung phong tại khu di tích Ngã ba Đồng Lộc...
+ Nhà bia tưởng niện liệt sĩ ngành Giáo dục tại Tân Biên, Tây Ninh: Bảo tàng tỉnh đã quảng bá đến công chúng về di tích cùng với các di tích lịch sử-văn hóa và cách mạng khác trong tỉnh, đồng thời kết hợp đưa những hình ảnh về di tích tới công chúng, đặc biệt là đối tượng học sinh, qua các cuộc triển lãm lưu động kỷ niệm những ngày lễ lớn. 
2.2. Tiếp tục đẩy mạnh đưa các loại hình nghệ thuật truyền thống và trò chơi dân gian vào trường học
- Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã biên tập, giới thiệu giá trị các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của địa phương cho ngành Giáo dục lựa chọn, hướng dẫn giáo viên lồng ghép vào nội dung bài giảng các môn học hoặc chương trình ngoại khóa. Một số đơn vị, địa phương đã phối hợp triển khai thực hiện tốt như:
+ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh đưa dân ca Quan họ đến với tất cả các trường THCS trên địa bàn tỉnh bằng cả hai hình thức lồng ghép qua các môn học và chương trình ngoại khóa;
+ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên đưa các loại hình như: dân ca Thái, dân ca H’Mông, múa Xòe, nhảy sạp, ném còn vào các hoạt động của hầu hết các trường phổ thông;
+ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai đưa 8 loại hình nghệ thuật của các dân tộc thiểu số (dân ca Giáy, múa dân gian dân tộc Giáy, dân ca H’Mông, múa gậy sinh tiền, múa ô dân tộc H’Mông, múa xòe dân tộc Tày, múa khăn dân tộc tày) vào chương trình âm nhạc của các trường nội trú;
+ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Sơn La biên soạn Danh mục 39 loại hình di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của các dân tộc tỉnh Sơn La kèm theo bản thuyết minh hướng dẫn;
+ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang đưa nghệ thuật sân khấu Chèo và hát Then đến với 10 trường học trong tỉnh;
+ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Kạn triển khai phổ biến các loại hình dân ca và sân khấu truyền thống trong gần 100 trường học tại 5 huyện;
+ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ đưa Hát Xoan đã mở lớp truyền dạy Hát Xoan cho giáo viên dạy nhạc các trường trong toàn tỉnh và đưa Hát Xoan vào 19 trường trên địa bàn tỉnh;
+ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn đưa hát Then, đàn Tính và dân ca các dân tộc vào chương trình học tập của hàng chục trường phổ thông;
+ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Dương đưa các loại hình: Tuồng (01 trường), hát Văn (02 trường), hát Chèo (10 trường);
+ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình hướng dẫn học sinh các trường từ mẫu giáo đến trung học phổ thông dựng 5 vở diễn nghệ thuật sân khấu để tham gia biểu diễn tại Trung tâm Văn hóa tỉnh;
+ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lâm Đồng giới thiệu đặc điểm, tính chất, lịch sử ra đời của 7 loại hình nghệ thuật và 14 môn thể thao truyền thống tại các trường học;
+ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai đã hướng dẫn 40 trường THPT, 181 trường THCS và 205 trường tiểu học tiếp nhận và triển khai các loại hình nghệ thuật như: múa Xoang, Cồng chiêng, nhạc cụ dân tộc, trò chơi dân gian;
+ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Kon Tum biên tập và giới thiệu loại hình “Hát dân ca các dân tộc Tây Nguyên” và “Kể chuyện sử thi”;
+ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Nông tổ chức truyền dayh đánh cồng chiêng cho các trường phổ thông dân tộc nội trú;
+ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đồng Nai đưa nghệ thuật Cải lương vào chương trình ngoại khóa của một số trường THCS...
- Nhiều trò chơi dân gian bước đầu đã được đưa vào trong các trường học như: “Chi chi chành chành”, “Nu na nu nống”, “Mèo đuổi chuột”, “Bịt mắt bắt dê”, “Nhảy dây”, “Chơi chuyền”, “Đẩy gậy”, “Kéo co”, “Nhảy bao bố”… Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch các địa phương đã tổ chức lựa chọn, biên tập và giới thiệu các trò chơi, các loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian và phối hợp với các cơ quan liên ngành hướng dẫn việc tổ chức đưa các trò chơi dân gian vào trong nhà trường phù hợp với lứa tuổi học sinh phổ thông và điều kiện cụ thể của địa phương như: biên soạn và xuất bản tập sách “Các trò chơi dân gian tỉnh Quảng Ngãi” để cấp cho Ban chỉ đạo PTTĐ cấp tỉnh, huyện và 629 trường học cấp mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông của; biên soạn sách “Di sản văn hóa Bến Tre” và sách “Các trò chơi vận động dân gian tỉnh Bến Tre” làm tài liệu giảng dạy; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Đồng giới thiệu đặc điểm, phương pháp tổ chức và thao tác thực hành 23 trò chơi dân gian và tổ chức thí điểm các liên hoan, hội thi trò chơi dân gian làm tiền đề cho việc lựa chọn các cá nhân tham gia Liên hoan trò chơi dân gian toàn quốc lần thứ hai tổ chức vào năm 2010. Trước đó, năm 2009, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Giang phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức Hội thi trò chơi dân gian lần thứ nhất, gồm 3 môn: đẩy gậy, kéo co và nhẩy bao bố, thu hút 941 học sinh cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông tham gia. Năm 2009 và 2011, tỉnh Hải Dương hai lần tổ chức Liên hoan Pháo đất, năm 2011 tổ chức giao lưu hát giao lưu hát Ca trù toàn tỉnh...
2.3. Phát huy tác dụng của hệ thống bảo tàng, thư viện ở địa phương
- Các bảo tàng và ban quản lý di tích trong toàn quốc đã chủ động, tích cực phối hợp với ngành Giáo dục tổ chức cho các em học sinh đến tham quan học tập tại các bảo tàng và di tích ở địa phương. 100% đơn vị trong ngành đã thực hiện miễn giảm vé tham quan bảo tàng, di tích và tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao cho các đối tượng học sinh trong dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn của đất nước và những sự kiện có liên quan: Ngày Quốc tế bảo tàng (18/5), ngày Quốc tế thiếu nhi (1/6), ngày Hội khai trường (5/9), ngày Di sản văn hóa Việt Nam-Ngày về nguồn (23/11)... Tổ chức các cuộc triển lãm chuyên đề và lưu động như: “Học tập và làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; “Việt Nam - Lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước”; “1000 năm Thăng Long-Hà Nội”,... qua đó giúp các em nâng cao hiểu biết, ý thức bảo vệ các di sản văn hóa của dân tộc, củng cố tình yêu với quê hương, đất nước và áp dụng các kiến thức mới được cập nhật vào việc học tập trên lớp.
- Các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tích cực chỉ đạo các thư viện ở các địa phương đẩy mạnh việc xây dựng các tủ sách cơ sở, đưa sách báo đến phục vụ học sinh các trường học trên địa bàn. Các thư viện đã quan tâm tới việc mở rộng đối tượng bạn đọc, bổ sung tài liệu phù hợp với đối tượng học sinh các cấp từ tiểu học đến THPT, giúp cho việc cập nhật, bổ trợ kiến thức học tập trên lớp của các em.
2.4. Các hoạt động khác
- Phối hợp tổ chức từ trung ương đến địa phương Ngày Di sản văn hóa Việt Nam - Ngày về nguồn (23/11) hằng năm với chủ đề và nội dung phong phú. Ngày Di sản văn hóa Việt Nam-Ngày về nguồn lần thứ VI (23/11/2010) đã được tổ chức thành công theo chủ đề “Dấu ấn Thăng Long-Hà Nội và Tuổi trẻ với Di sản văn hóa Việt Nam”, với nhiều hoạt động phong phú như: Thi vẽ tranh danh lam, thắng cảnh nổi tiếng của Hà Nội; giao lưu nghệ thuật truyền thống học sinh, sinh viên, thanh niên với chủ đề “Tuổi trẻ với di sản văn hóa Việt Nam”; toạ đàm “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Thăng Long-Hà Nội”; tham gia bầu chọn Vịnh Hạ Long là kỳ quan thiên nhiên thế giới... Ngày Di sản văn hóa Việt Nam-Ngày về nguồn lần thứ VII (23/11/2011) với chủ đề “Tuần Văn hóa Du lịch Di sản Bắc Trung bộ có các hoạt động liên quan đến PTTĐ, như: Thi vẽ tranh danh lam, thắng cảnh, thi tìm hiểu, liên hoan văn nghệ, dạ hội tuổi trẻ với Di sản văn hóa Việt Nam, chương trình Thần đồng Đất Việt, tổ chức học sinh, sinh viên đến triển lãm học tập ngoại khóa tìm hiểu về Di sản văn hóa… tiếp tục phát động phong trào thi đua học sinh, sinh viên giai đoạn 2011-2015…
- Tổ chức đặt các điểm bình chọn Vịnh Hạ Long tại các điểm du lịch, thư viện, bảo tàng, một số trường đại học, cao đẳng trực thuộc Bộ và một số trường phổ thông trung học ở các địa phương, góp phần đưa Vịnh Hạ Long trở thành một trong bảy kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới.
3. Đánh giá kết quả đạt được
3.1. Kết quả tích cực
- Qua 4 năm triển khai, PTTĐ đã giúp cho các đối tượng học sinh có điều kiện tìm hiểu cụ thể hơn về di sản văn hóa và truyền thống cách mạng của quê hương, đất nước, từ đó nâng cao ý thức và tạo điều kiện cho các em có ý thức tự giác, chủ động, tích cực của học sinh trong việc tham gia hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Mặt khác, những hoạt động văn hóa cũng đã góp phần đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học trong nhà trường, nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập, làm cho các môn học trở nên sinh động và việc tiếp thu của học sinh hiệu quả hơn.
- PTTĐ luôn nhận được sự quan tâm của các các cơ quan tham gia từ trung ương tới địa phương, ngày càng có chiều sâu trong các hoạt động, tạo được hiệu ứng tích cực đối với xã hội và đạt được một số kết quả đáng khích lệ.
3.2. Khó khăn, hạn chế
- Việc phối hợp giữa các cơ quan thuộc ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch với các ngành hữu quan ở một số địa phương còn chưa thực sự hiệu quả để triển khai các hoạt động theo kế hoạch đã ký kết. Công tác phối hợp mới đạt hiệu quả bước đầu ở cấp tình, còn tại cấp huyện thiếu chặt chẽ và thường xuyên.
- Việc kết hợp giáo dục về di sản văn hóa trong học đường còn chưa có sự chuẩn bị chu đáo, chưa tương xứng với tiềm năng và chưa thực sự hấp dẫn đối với học sinh. Các hoạt động chăm sóc di tích có hiệu quả thường chỉ diễn ra tại các di tích lớn. tiêu biểu; hoạt động của một số trường mới dừng lại ở việc quét dọn vệ sinh di tích, hoặc tổ chức cho các em dâng hương vào dịp lễ hội; việc đưa các loại hình nghệ thuật truyền thống, trò chơi dân gian vào học đường do thiếu kinh phí đầu tư nên chủ yếu chỉ dừng lại ở các hoạt động ngoại khóa, chưa kết hợp chặt chẽ với nội dung các môn học và chưa thực sự thu hút được các em nhiệt tình tham gia do còn phải dành thời gian học thêm các môn học chính.
- Đối với các trường học vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn việc tổ chức các trò chơi, các hoạt động văn nghệ dân gian còn nhiều hạn chế do thời gian và cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật còn rất thiếu thốn; mặt khác, học sinh đồng bào dân tộc thiểu số còn chưa bạo dạn, chưa tích cực tham gia các hoạt động tập thể.
3.3. Đề xuất, kiến nghị
- Tiếp tục tuyên truyền sâu rộng, làm rõ mục đích, ý nghĩa và lợi ích của PTTĐ thông qua các phương tiện thông tin đại chúng cả ở trung ương và địa phương.
- Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan đầu mối tại các địa phương thông qua Ban chỉ đạo PTTĐ cấp tỉnh để việc triển khai các hoạt động chung được thực hiện đồng bộ và có sự liên kết chặt chẽ.
- Quan tâm hơn nữa việc tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm các hoạt độgn, nhằm đảm bảo các hoạt động của PTTĐ thu được hiệu quả thiết thực. Khuyến khích việc đề xuất đổi mới các hình tổ chức thực hiện, góp phần tạo nên sức thu hút và đem lại hiệu quả cho PTTĐ.
- Chú trọng công tác thi đua - khen thưởng, nhằm kịp thời biểu dương và nhân rộng các gương điển hình tiên tiến.
4. Định hướng của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về triển khai PTTĐ năm học 2012-2013
1. Chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Di sản văn hóa Việt Nam và các cơ quan có liên quan tổ chức Ngày Di sản văn hóa Việt Nam-Ngày về nguồn lần thứ VIII (23/11/2012), trong đó có các hoạt động dành riêng cho đối tượng học sinh.
2. Chỉ đạo các bảo tàng cấp tỉnh tiếp tục nghiên cứu tổ chức các cuộc triển lãm chuyên đề, chương trình giáo dục mang tính trực quan theo chủ đề “Tuổi trẻ với sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa” dành riêng cho đối tượng học sinh, đặc biệt là vào dịp kỷ niệm ngày Quốc tế Bảo tàng 18/5/2013.
3. Chỉ đạo hệ thống thư viện tỉnh tiếp tục hỗ trợ ngành Giáo dục phát triển mạng lưới thư viện trường học, nhằm sử dụng có hiệu quả cho công tác giảng dạy và học tập của các trường học trên địa bàn.
4. Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo kiểm tra thực tế, đánh giá hiệu quả các hoạt động: bàn giao-hướng dẫn chăm sóc di tích; đưa nghệ thuật truyền thống, trò chơi dân gian vào trường học và phát triển mạng lưới thư viện học đường phục vụ học tập.
5. Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng kế hoạch tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về lịch sử địa phương, về thân thế sự nghiệp các nhân vật lịch sử gắn với di tích thờ tự, công trình lưu niệm danh nhân, anh hùng liệt sĩ và các di sản văn hóa tiểu biểu ở địa phương.

DSVH

Các tin khác



Sự kiện qua ảnh

45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45
45

Tìm kiếm

Liên kết website